Kinh Thành Huế – Hoàng Thành và Tử Cấm Thành

Mỗi khi đến Huế, chúng ta không thể bỏ qua kinh thành và hoàng thành cổ của cố đô xinh đẹp. Đây là điểm chính thu hút sự chú ý và yêu thích của hầu hết du khách. Sau đây, cùng daybe điểm qua những công trình kiến trúc nổi tiếng của kinh thành và hoàng thành huế (tử cấm thành).

hoang thanh hue
Hoàng Thành Huế – Ảnh: daybe.net

Kinh thành là nơi đặt kinh đô của nhà Nguyễn.

Lúc đầu Gia Long cho đắp thành bằng đất, khởi công vào tháng tư năm Ất Sửu (1805). Mười ba năm sau (1818) mới xây gạch ở hai mặt nam và tây, rồi mặt bắc. Đến năm Minh Mạng thứ 2 (1821) việc xây gạch ở mặt đông mới xong.

Kinh thành hình vuông, chu vi đo được gần 10 km, xây toàn bằng gạch, cao 6m dày 20m. Chung quang thành về phía ngoài có hào rộng gần 23m và sâu 4m.

Phía ngoài Kinh thành về góc đông bắc xây thêm một cái thành phụ dùng làm pháo đài trấn giữ cửa ngõ lên Kinh thành từ biển Thuận An. Thành này có tên Trấn Bình Đài, tục gọi là Mang Cá.

Kinh thành Huế có 10 cửa ra vào, mặt trước 4 cửa, mặt sau và hai mặt bên mỗi mặt có hai cửa. Bốn cửa mặt trước là:

– Cửa Đông Nam, thường gọi là cửa Thượng Tứ, xây năm 1809, vọng lâu làm năm 1829 (các cửa ở mặt trước Kinh thành đều làm một lần).

– Cửa Thể Nhơn, tục gọi là cửa Ngăn, dưới thời Gia Long nó có tên là Thể Nguyên, tên Thể Nhơn mới có từ năm 1929).

– Cửa Quảng Đức, (lụt 1953 làm sập nên còn có tên là cửa Sập).

– Cửa Chính Nam, tục gọi là cửa Nhà Đồ. Hai cửa mặt sau là:

– Cửa Chính Bắc, tục gọi là cửa Hậu (cửa xây năm 1829, vọng lâu làm năm 1831).

– Cửa Tây Bắc ngó ra làng An Hòa nên còn có tên là cửa An Hòa (ra đời cùng thời với cửa Hậu).

Hai cửa phía Tây là cửa Chính Tây và cửa Tây Nam, còn có tên là Cửa Hữu (vì ở bên phải Kinh thành).

Hai cửa phía Đông là cửa Chính Đông tục gọi là Đông Ba và cửa Đông Bắc hay tục gọi là cửa Kẻ Trài, hai cửa này đều xây từ năm 1809 và làm vọng lâu năm 1824.

Ngoài mười cửa chính còn một cửa phụ thông với Trấn Bình Đài gọi là Thái Bình Môn; và Trấn Bình Đài thông với bên ngoài còn có cửa Trường Định hay cửa Trệt (vì chỉ cao đúng 5m và không có vọng lâu).

Tại chính giữa mặt nam Kinh thành có Kỳ Đài. Chung quanh và ngay trên thành có thiết lập 24 pháo đài để phòng thủ.

NGỌ MÔN – Cổng chính của Hoàng thành

Ngọ môn là cửa chính đi vào Hoàng Thành đứng trước điện Thái Hòa và nhìn thẳng ra Kỳ Đài.

Lúc xây Hoàng Thành năm 1804 vua Gia Long đặt ở đây một cái đài mang tên là Nam Khuyết (giống như đông, tây và bắc khuyết đài trên Hoàng Thành còn thấy ngày nay). Năm 1806 nhà vua cho xây ở trên Nam Khuyết đài một kiến trúc mà sử sách còn ghi là Điện Càn Nguyên. Hai bên điện có hai cửa Tả, Hữu Đoan môn. Đến năm 1833, vua Minh Mạng đích thân điều khiển lính thợ tháo gỡ điện Càn Nguyên vào làm Cung Càng Thành, cải tạo Nam Khuyết đài thành cửa Ngọ Môn.

Cửa Ngọ Môn là một tòa lâu đài đồ sộ hình chữ U gồm có 2 phần: phần dưới là đài xây bằng gạch và đá Thanh, đá Quảng và phần trên là lầu – một kiến trúc hoàn toàn bằng gỗ và ngói.

Phần đài chỗ dài và rộng nhất đo được 50m và 27m, chiều cao 5m2. Mặt sau xây 2 cầu thang lộ thiên ở hai đầu để lên lầu. Có 5 lối đi xuyên qua đài. Cửa chính giữa là Ngọ Môn (nền lót đá thanh, cửa sơn màu vàng giành cho vua đi), hai bên có Tả, Hữu Giáp môn giành cho các quan văn, võ, hai cạnh hình chữ U lại có 2 khuyết môn (gọi là cửa quanh) hình chữ L, Dành cho quân lính, voi ngựa trong các đạo ngự ra vào Hoàng Thành.

Phần lầu nằm ở hai bên lầu Ngũ Phụng (ở giữa) và hai dãy dực lâu ở hai bên, đều có 2 tầng. Đứng trên cao nhìn xuống thấy có 9 nóc lầu giáp mái lại với nhau tạo thành một dãy ngang 5 mái, hai dãy dọc mỗi dãy 2 mái, giống hình 5 con chim phụng sè cánh châu đầu lại với nhau. Chung quanh lầu lại xây một dãy hồi lang có mái che.

Mái lầu ở giữa lợp ngoái hoàng lưu ly (dành cho vua) các lầu khác đều lợp ngói thanh lưu ly. Dọc theo bờ nóc trang trí hình đắp hồi long, lá lật, dơi ngậm kim tiền; trong những ô hộc ở dọc bờ nóc khảm nhiều bức tranh mai lan cúc trúc bằng sành sứ, màu sắc tươi tắm hài hòa, có sức chịu đựng bền bỉ trước mọi thử thách của mưa gió và thời gian.

Tầng lầu trên có vách ván, dành riêng cho bà Hoàng Thái Hậu và các bà Phi trong cung cấm. các bà được phép nhìn ra ngoài qua mấy cửa sổ có hình tròn, hình quạt hay hình cái khánh… Bên ngoài các cửa này cũng đều có rèm che, người bên trong thấy được cảnh vật bên ngoài, nhưng bên ngoài không thấy được các cô các bà đang ngồi ở bên trong.

Tầng lầu dưới để trống, trừ gian giữa có vách đố và cửa kính. Đó là nơi vua ngự tọa vào những khi có lễ lượt, khánh tiết. Phía sau chỗ ngữ tọa có đặt trống và chuông to. Khi có lễ lượt thì đánh chuông, gióng trống cho thêm phần trọng thể (hang ngày cái trống này cũng được sử dụng vào giờ mở và đóng cửa Kinh Thành). Khi nghe trống Ngọ Môn điểm thì súng trên Kỳ đài nổ. Nghe tiếng súng lính tuần sát sẽ mở hay đóng cửa Kinh Thành.

Hai chữ Ngọ Môn gắn trên ngách cửa chính ngày xưa được bọc bằng vàng thật. cho mãi đến năm 1943 mới bị đánh cắp. Các bộ phận vách, cột, kèo, cửa lan can đều sơn son thép vàng rực rỡ. Trải qua hai cuộc chiến tranh, Ngọ Môn bị hư hại nhiều, do đó cũng đã nhiều lần được tu sửa. Nhưng rất tiếc là những người phụ trách việc này làm không đúng quy cách nên nó không còn được hình dáng giống như xưa.

Ngoài công dụng để vào Hoàng Thành, Ngọ Môn còn là nơi nhà vua ra dự các buổi khánh tiết để cho thần dân chiêm bái và khánh hạ, là nơi tổ chức các lễ truyền lô, xướng danh những người đỗ thi Hội thi Đình, lễ ban sóc (ban lịch năm mới)…

Trên đường cái chạy trước Ngọ Môn có đặt hai bia đá khắc mấy chữ “khuynh cái hạ mã” để báo hiệu cho khách bộ hành lưu ý nghiêng nón và xuống ngựa trước khi đi qua chỗ tôn nghiêm này.

ĐẠI CUNG MÔN (KINH THÀNH HUẾ)

Đại cung môn là một kiến trúc bằng gỗ sơn son thếp vàng ở trung tâm Hoàng Thành Huế, cửa ngõ dẫn vào Tử Cấm Thành.

Đại Cung Môn xây dựng năm 1833 thời Minh Mạng, ngay trên địa điểm của điện Thái Hòa thời Gia Long (1805). Vật liệu xây dựng có lẽ lấy một phần săng gỗ của điện Càng Nguyên (điện tọa lạc trên Nam Khuyết đài chỗ cửa Ngọ Môn ngày nay, dựng dưới thời Gia Long và bị Minh Mạng triệt hạ để làm cửa Ngọ Môn).

Đại Cung Môn là một cái cửa vàng son chói lọi nguy nga sang trọng nhất so với tất cả các cửa trong Hoàng Cung, màu sắc rất tươi nhưng rất hài hòa. Ở giữa là cái cửa sơn vàng chỉ mở khi vua ngự hoặc cho các vị quốc khách. Dưới mái cửa đặt hai độc bình đồ sộ rất đẹp. Trên mặt gỗ chia ô hộc có thơ văn chạm khắc, nhiều bài có giá trị văn học. Hai bên Đại Cung Môn còn có nhiều phòng dành cho các quan ngồi đợi, sửa soạn triều phục trước khi làm lễ Bái Khánh.

Con đường trước Đại Cung Môn có dựng hai phường môn: Nhật Tinh (phía đông) và Nguyệt Anh (phía tây) dẫn đến hai cửa Hiển Nhơn và Chương Đức. Qua khỏi cửa du khách sẽ gặp ngay hai cái vạc đồng lớn đúc dưới thời Nguyễn Phúc Tần (chúa Hiền) để trước sân, ở cuối sân là Điện Cần Chánh, hai bên là Tả, Hữu vu.

Đại Cung Môn đã bị cháy trong những ngày khởi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp (đầu năm 1947), ngày nay không còn dấu vết gì.

ĐIỆN CẦN CHÁNH

Đây là nơi làm việc thường ngày của các vua nhà Nguyễn, là công trình kiến trúc chính trong tử cấm thành.

Kiến trúc điện Cần Chánh giống như điện Thái Hòa nhưng đẹp hơn. Điện xây dựng từ năm 1811 đời Gia Long, xây mặt về hướng nam, chính tịch năm gian, tiền tịch bảy gian, đông tây có hai chái, nền cao 0m92, trùng thiềm điệp ốc, mái lợp ngói hoàng lưu ly, mặt trước được trang sức bằng Pháp lam, trên nóc thiết bầu rượu cũng bằng Pháp lam, mặt trước có ba bệ đá để lên xuống, mặt sau hai bệ, hai mặt đông tây có một bệ. Điện được sửa sang lợp lại bộ mái và các năm 1827, 1850, 1899, và cuối cùng được Khải Định sơn thếp mới vào đầu thế kỷ XX.

Khác với điện Thái Hòa, gian giữa trong điện Cần Chánh không đặt ngai vàng mà chỉ thiết một cái long vàng với nhiều gối tựa để nhà vua ngồi làm việc. Hai bên điện treo bản đồ của các tỉnh. Điện Cần Chánh cũng là nơi trưng bày những báu vật quý giá nhất của triều đình nhà Nguyễn.

Ngày 5 – 7 – 1885 Hoàng Cung bị bỏ ngỏ, vô số bảo vật vô giá đã bị cướp đi. Tướng Đờ Cuốc – xy đã phải đánh về Paris một bức điện ngày 24 – 7 – 1885 có đoạn viết như sau: “Trị giá các báu vật bằng vàng và bằng bạc phỏng chừng chín triệu quan. Đã khám phá thêm nhiều ẩn tín và kim sách đáng giá bạc triệu nữa. Việc xúc tiến tập trung những kho báu vật rất khó khăn”.

Điện Cần Chánh đã bị cháy trong cơn binh lửa đầu năm 1947. Hiện nay cơ quan UNESCO đang dự tính xây dựng lại.

ĐIỆN KIẾN TRUNG

Điện Kiến Trung nằm sau điện Cao Minh Trung Chính , là một dinh thự lớn, kiến trúc cầu kì pha Âu pha Á.

Dưới thời Minh Mạng (1827), chỗ xây dựng điện Kiến Trung là một tòa lầu  tầng (10m8) lợp ngói Hoàng lưu ly. Đứng trên lầu trông thấy rõ cảnh vật ở tận ngoài xa, vì thế nhà vua đặt tên là Minh Viễn lầu. Vua Thiệu Trị liệt lầu Minh Viễn vào loại bậc nhất cảnh trong 20 thắng cảnh của đất Thần Kinh. Thời Thiệu Trị, thời Tự Đức, lầu được tu bổ nhiều lần nhưng đến năm 1876 thì không tu bổ được nữa nên phải phá hủy.

Ngày 31 – 12 – 1915, vua Duy Tân tham chiếu kiến trúc của Tây Phương dựng trên nền cũ lầu Minh Viễn một tòa lầu mới với tên gọi là lầu Du Cửu.

Khoảng năm 1916 – 1917, Khải Định cho xây dựng lại thành một tòa điện lớn, đổi tên là Kiến Trung.

Sau ngày toàn quốc kháng chiến, điện Kiến Trung cùng với phần lớn những cung điện trong Tử Cấm Thành đều bị phá hủy.

TAM CUNG VÀ LỤC VIỆN

Tam cung, Lục Viện là nơi ở của các bà vợ chính và thứ của các vua thời trước.

Căn cứ trên thực tế, cung, viện dành cho các bà vợ vua Nguyễn trong Tử Cấm Thành ta thấy có:

– Cung Khôn Thái là một cụm kiến trúc làm từ đầu triều Gia Long (1804), có điện Cao Minh Trung Chính ở cách phía sau chỗ ở của vua là điện Càn Thành một cái sân, bà Hoàng Quý Phi vợ chính của vua ở đó.

– Bên tay phải cái sân giữa điện Cần Chánh và điện Càng Thành có điện Trinh Minh làm năm 1810 thời Gia Long, nơi ở của các bà nhất Giai Phi và nhị Giai Phi

(Nếu chỗ ở các bà nhất, bà nhị giai phi được xem như hai cung thì có thể tính với cung Khôn Thái nữa là đủ Tam Cung)

– Các bà Tân (tam giai tân và tứ giai tân) ở Tần Trang viện (ở phía tây cái sân sau điện Càn Thành);

– Các bà Tiếp Dư (ngũ giai Tiếp Dư và lục giai Tiếp Dư) ở viện Đoan Huy (ngay phía tây điện Cao Minh Trung Chính của cung Khôn Thái), viện này làm năm 1827 đời Minh Mạng.

– Các bà thất giai Quý Nhân, bát giai Mỹ Nhân, cửu giai Tài Nhân, các bà chưa có cấp bậc cùng tất cả cung nhân chia nhau ở các viện còn lại như Đoan Trang (phía sau và thẳng góc với Tần Trang, làm năm 1821), Đoan Thuận (phía sau và song song với viện Đoan Huy, làm năm 1830), Đoan Tường (phía sau song song với Đoan Thuận), Đoan Hòa (gồm hai dãy song song với điện Kiến Trung ở phía tây).

DUYỆT THỊ ĐƯỜNG

Duyệt Thị Đường – nhà hát trong cung đình xây dựng năm 1826 thời Minh Mạng, nằm về phía Đông điện Quang Minh trong Tử Cấm Thành.

Nhà hát hình chữ nhật rộng rãi với bộ mái có những bờ quyết cong giống như những đình chùa ở Huế, được chống đỡ bởi hai hàng cột liêm sơn son, vẽ rồng ẩn mây uốn chung quanh. Ở lưng chừng mỗi cột treo thêm một  bức tranh sơn thủy vẽ cảnh Huế với khung chạm rồng nổi thếp vàng. Trên cao hơn, mặt trời, mặt trăng, tinh tú tượng trưng cho vũ trụ đã khái quát vẽ lại hoặc chạm nổi lên cái trần nhà màu xanh lơ. Tòa nhà nối liền với các cung điện của nhà vua và các bà hoàng bằng một dãy hành lang có mái khúc khuỷu, quanh co.

Sân khấu hình vuông đặt ngay giữa sàn nhà. Không có sự bài trí để phân biệt giữa cuộc đời hiện thực với thế giới ước lệ của sân khấu. Bức tường ở cuối sân khấu trỗ hai cửa. Các diễn viên vào ở phía phải và ra phía trái. Phía sau bức tường là một phòng rộng, đựng tủ kệ để chứa các bản tuồng, hia mão và đạo cụ biểu diễn. Ở vị trí cao nhất trong phòng là một cái khám thờ hai ông làng – tổ sư của nghề hát bội. Phòng này lại trổ cửa hướng ra cái sân ở mé đông Tử Cấm Thành (các nghệ nhân ra vào bằng lối này).

Đối xứng với bức tường qua sân khấu, là một cái đài cao chia ra làm 2 bậc. Bậc cao nhất nằm sát tường phía Tây dành cho các bà Hoàng và cung tần mỹ nữ, bậc thấp đặt ngự tọa làm nơi cho nhà vua ngồi xem hát. Hai bậc này được ngăn cách bởi một lớp sáo trúc thưa làm cho người ngồi bên trong nhìn rõ được người bên ngoài, nhưng người xem và biểu diễn ở ngoài không thấy được người đẹp trong cung cấm. Thỉnh thoảng người ta chỉ nghe được tiếng quạt phẩy nhè nhẹ như cánh chim đập khẽ hay tiếng cười khúc khích từ phía trong hàng sáo vang ra. Hai bên chỗ vua ngự đặt vài bộ bàn ghế dành cho các quốc khách. Thời Pháp thuộc các Toàn quyền, Khâm sứ hay ngồi ở đó.

Duyệt Thị Đường là cái nhà hát cổ nhất còn lại của ngành sân khấu truyền thống Việt Nam. Nhà hát này đã ngưng hoạt động từ sau ngày chế độ quân chủ cáo chung (8 – 1945). Thời Mỹ tạm chiếm, chính quyền ở miền Nam sử dụng Duyệt Thị Đường làm trường âm nhạc Huế (ngày nay là Trường Cao Đẳng Nghệ thuật miền Trung).

THÁI BÌNH LÂU

Thái Bình Ngự Lãm Thư Lâu là chỗ để vua nghỉ hoặc đọc sách.

Năm 1821, Minh Mạng cho cất một ngôi nhà ở phía Tây vườn Thiệu Phương mang tên Trí Nhân Đường. Đến đời Thiệu Trị sửa lại và đặt tên là Thanh Hạ Thư Lâu (nhà làm văn). Năm 1887, Đồng Khánh cho triệt hạ và dựng lầu mới gọi là Thái Bình Ngự Lãm Thư Lâu. Lầu này dùng sành sứ khảm chạm rất công phu. Phía tây lầu trông xuống một hồ vuông, trong xếp đá thành non bộ giả cảnh thiên nhiên thật hấp dẫn. Ở bên trái tòa dựng lầu Tứ Phương Vô Ngu, bên phải dựng hành lang Hóa Nhật Thư Trường, rồi ở bên trái đình Bát Phong dựng gác nhỏ gọi là Lục Trì Thần Thông, bên phải dựng phòng Thận Tu, ở phía bắc phòng ấy dựng lầu Lục Giác, bên trái lầu ấy dựng quán Trạch Trung, phía trước gọi là nhà Đức Viên. Cầu, hành lang liền nhau, ao hồ nước thông chảy suốt, xem rất nên thơ.

Thái Bình Lâu là tòa nhà duy nhất bên trong Tử Cấm Thành còn nguyên vẹn sau ngày Pháp trở lại chiếm đóng Huế đầu năm 1947.

TRIỆU MIẾU

Miếu xây mặt hướng nam, nằm ngay sau lưng Thái Miếu thờ ông bà Triệu Tổ của dòng họ nhà Nguyễn.

Vua Gia Long dựng Triệu Miếu vào năm 1804, chính doanh 3 gian, tiền doanh 5 gian, trùng thiềm điệp ốc, lợp ngói hoàng lưu ly, trên nóc có bình rượu Pháp Lam, ở gian giữa miếu thờ ông bà Nguyễn Kim – thân sinh chúa Nguyễn Hoàng.

Trong miếu có Thần Khố (đông) và Thần Trù (tây) đều ba gian hai chái. Chung quanh Miếu có tường bao bọc. Mặt tường phía Bắc (sau Miếu) trổ hai cửa Tập Khánh (bên trái) và Diễn Khánh (bên phải), mặt tường phía nam chung với tường phía bắc của Thái Miếu, phía trái đối với cửa Tập Khánh là cửa Nguyên Chỉ, phía phải đối với cửa Diễn Khánh là cửa Trường Hựu.

Qua hai cuộc chiến tranh, Triệu Miếu bị hư hại nặng. Năm 1984 Miếu đã được trùng tu đúng theo qui cách cũ.

THÁI MIẾU

Miếu nhìn về hướng Nam thờ 9 đời chúa Nguyễn, tọa lạc ở góc đông nam Hoàng Thành.

Miếu xây dựng năm 1804 đời Gia Long, chánh doanh 13 gian, tiền doanh 15 gian, hai chái đông tây chung đường mà khác thất.

Gian chính giữa đặt thần Khám và thần vị hai ông bà Nguyễn Hoàng (thường gọi là chúa Tiên). Hai bên phải trái mỗi bên có 4 cái thất để thờ 8 vị chúa theo thứ tự như sau:

Thất thứ nhất (bên trái) thờ ông bà Nguyễn Phúc Nguyên (thường gọi là Chúa Sãi)

Thất thứ nhất (bên phải) thờ ông bà Nguyễn Phúc Lan (thường gọi là Chúa Thượng)

Thất thứ nhì (bên trái) thờ ông bà Nguyễn Phúc Tần (thường gọi là Chúa Hiền)

Thất thứ nhì (bên phải) thờ ông bà Nguyễn Phúc Trăn (thường gọi là Chúa Ngãi)

Thất thứ ba (bên trái) thờ ông bà Nguyễn Phúc Chu (thường gọi là Chúa Minh)

Thất thứ ba (bên phải) thờ ông bà Nguyễn Phúc Chú

Thất thứ tư (bên trái) thờ vợ chồng ông bà Nguyễn Phúc Khoát (thường gọi là Võ Vương)

Thất thứ tư (bên phải) thờ Nguyễn Phúc Thuần

Phía bên trái của Thái Miếu có một ngôi nhà mang tên Điện Long Đức, đây là nơi chuẩn bị thức ăn, hoa quả để kỵ vợ chồng Nguyễn Hoàng thờ ở gian chính Thái Miếu. Trước sân miếu ở phía bên trái có Điện Chiêu kinh (dùng vào việc chuẩn bị các bữa kỵ ở những án bên trái), bên phải Miếu có Điện Mục Tư (chuẩn bị các bữa kị 4 án ở bên phải). Phía bắc Điện Mục Tư là nơi thờ thổ công gọi là Phương Đường.

Chung quanh Thái Miếu có tường bao bọc. Liên lạc với bên ngoài ở phía trái qua cửa Hiển Thừa, bên trái cửa Túc Tường, mặt sau có cửa Nguyên Chỉ và cửa Trường Hựu.

Trước sân miếu có một bức tường chắn ngang, khoảng giữa dựng gác Tuy Thành ba tầng, ba gian hai chái, lợp ngói hoàng lưu ly, trên nóc có bầu rượu bằng Pháp lam. Bên trái trổ cửa Diên Hy, trên cửa là gác chuông; đối xứng qua bên kia là cửa Quang Hy, trên cửa là gác trống.

Ra ngoài gác Tuy Thành có Tả, Hữu Vu làm từ thời Gia Long. Nhà Tả Vu thờ bốn ông Hoàng tộc có công từ thời các chúa Nguyễn: Tôn Thất Khê, Tôn Thất Hiệp, Tôn Thất Hạo và Tôn Thất Đồng. Nhà Hữu Vu thờ những khai quốc công thần người bá tánh: Nguyễn U Kỷ, Đào Duy Từ, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Kỉnh, Nguyễn Cửu Dật và Nguyễn Cư Trinh.

Ra ngoài có cửa chính của Thái Miếu, trước cửa hai bên đặt hai con sư tử đá.

Thái Miếu được trùng tu lần thứ nhất dưới triều Thành Thái, lần thứ hai dưới triều Khải Định. Hồi tháng 2-1947, cùng với nhiều di tích khác trong Hoàng Thành, Thái Miếu đã bị cháy. Miếu hiện nay còn lại do bà Từ Cung làm trong những năm 70 thế kỷ XX.

Leave a Reply