Trong quần thể kiến trúc đô thị, thương cảng này hầu như du khách nào đã từng đặt chân đến Hội An cũng đều biết di tích Cầu Nhật Bản bởi không biết tự bao giờ chiếc cầu cong có mái này đã trở thành biểu trung văn hóa của người dân nơi đây.

Thời thương cảng phồn thịnh Hội An với chính sách thu hút, cho phép định cư đối với các thương gia Nhật, Hoa mà cụ thể là các khu phố Hoa, phố Nhật. Chính vì vậy mà theo một số nhà nghiên cứu đã giải thích theo tương truyền cầu này nằm trong lòng phố Nhật xưa do thương nhân Nhật Bản khởi dựng. về sau người Việt, người Hoa và các thương khách góp công tôn tạo. điều này thể hiện mối quan hệ hữu nghị truyền thống của các dân tộc đã từng cộng cư hòa bình trên mảnh đất này.

Chùa Cầu - Cầu Nhật Bản Chùa Cầu – Cầu Nhật Bản – Ảnh Bảo Huy

Không rõ niên đại xây dựng tự năm nào nhưng căn cứ vào các văn bia đá lớn gắn vào vách hai bên đầu cầu, các lần khảo sát công jvowis những nguồn tài liệu khác (Thiên nam tứ chí lộ đồ, Hải ngoại ký sự của Thích Đại Sán) thì cầu xây dựng vào cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII và trước năm 1963 (khi các thương gia Nhật Bản quay về nước vì chính sách đối ngoại của vương triều Mạc Phủ – Nhật Bản bế quan tỏa cảng). trong cầu thờ hai cặp tượng gỗ chó và khỉ bên ngoài sơn một lớp sơn màu đá xám (một t ượng chó được phục chế năm 1956), có ý kiến cho rằng đó là cách ghi niên đại lúc khởi công xây cầu (năm Thân) và khi cầu được xây hoàn tất (năm Tuất).

Vào năm 1695 trong “Hải ngoại ký sự” của nhà sư Thích Đại Sán (người Hoa gốc tỉnh Quảng Đông) gọi là “Nhật Bản kiều”. Nhật Bản kiều” đã từng đóng vai trò quan trọng trong việc nối liền hai bờ một lạch nước (chảy hòa vào sông Thu Bồn) nhằm đáp ứng nhu cầu đi lại, giao thương mậu dịch của thương cảng quốc tế Hội An.

Cầu còn có tên thứ hai là Chùa Cầu. năm 1636 khi người Nhật đã rời khỏi Hội An, người Hoa (từ phố Hoa) tiếp quản phố Nhật (về phía Đông) và nối thêm một gian nhô ra ở mặt Bắc của cầu vào khoảng giữa thế kỷ XVII – Dân địa phương gọi là chùa từ đó (“miếu” mang tính chính xác hơn). Trong chùa thờ một vị nam tên Bắc Đế Trấn Võ (còn gọi là Huyền Thiên đại đế) nhằm cầu mong sự bình an, ổn định về địa thế, phong thổ ở Hội An. Theo huyền thoại trong nhân dân thì từ thuở xưa có con quái vật tục gọi là con Cù. Đầu nó ở Ấn Độ, đúc kéo sang Nhật và thân nó tìm thấy ở Hội An. Mỗi lần con Cù quẫy mình thì ở Nhật động đất, ở Ấn Độ hạn hán, ở thương cảng Hội An nước dâng ngập tràn. Theo các thầy phù thủy, để yểm trừ hoạn nạn, dân nên lập miếu thờ thần trị thủy. công trình này đã phản ánh đời sống tâm linh của người Minh Hương – những thương nhân chờ mùa gió thuận gương buồm quay về Trung Quốc hay sang buôn bán bên này.

Chùa Cầu được giới hạn bởi những vách ngăn của bộ cửa “thượng song hạ bản”, tạo nên hai không gian riêng biệt. Cầu bên ngoài dùng để giao thông đi lại, còn chùa bên trong để thờ tự tín ngưỡng. Tuy cầu và chùa được xây dựng cách nhau hơn nữa thế kỷ, song ổng thể kiến trúc với hai cá thể chùa và cầu gắn với nhau thành một thống nhất đến khó mà phát hiện những dấu hiệu sai biệt, khập khiễng trong từng cấu kiện của tổng thể Chùa Cầu. Có lẽ những lần trùng tu sau này đã dần chuyển hóa từng phong cách kiến trúc tạo nên sự hài hòa, hợp lý thể hiện đậm đà sắc thái văn hóa Hội An.

Bên trên cửa ra vô chùa có gắn một hoành gỗ chạm nổi ba chữ Hán “Lai Viễn kiều” góc dưới bên trái có châu ấn hiệu “Thiên túng dạo nhân” của chúa Nguyễn Phúc Chu. “Lai Viễn Kiều” là một tên gọi thứ ba của cầu và vức hoành gỗ này được làm từ năm 1719, chúa Nguyễn Phúc Chua đi tuần du phương Nam, khi xa giá đến Hội An thấy phía Tây phố có cầu, mặt Nam cầu thuyền buồn tụ họp bèn ban cho tên là “Lai Viễn Kiều”, “Lai” là đến, “Viễn” là xa, “Kiều” là cầu cong, nghĩa rằng cầu đón khách phương xa, ý này xuất phát từ một mệnh đề trong sách luận ngữ của Khổng Tử”: “Hữu = tự viễn phương lai, bất diệt lạc hồ” nghĩa có người bạn từ phương xa đến há chẳng vui sao?” Nóc mái mái tạo hình lưỡng long tranh châu cách điệu, mặt cắt lát, ván có hai lề cầu từng được làm nơi trú nắng, trú mưa hay là nơi dừng chân nghỉ mát cho bao khách bộ hành.

Trong lòng cầu có hai gian đầu cầu hợp với bảy gian giữa theo hình chữ I (có thể xem như lòng cầu có chính gian – con số 9 – sinh sôi nảy nở). Đây cũng là tham vọng buôn bán phát đạt, các cấu kiện gỗ liên kết với nhau từ những phía tạo nên thể thống nhất, bền chắc nhưng vẫn giữ được dáng vẻ duyên dáng, mềm mại nhờ sự khéo léo của các nghệ nhân Việt tạo dựng.

Nếu dựa vào các văn bia, các xà nóc chạm nổi niên đại 3 lần trùng tu thì đến người Nhật Bản đã được trùng tu, sữa chữa 5 lần, lần thứ nhất vào năm 1763 do ông Trương Hoành Cơ (người Minh Hương), lần thứ 2 vào năm Gia Long 16 (1817) do người trong Minh Hương xã. Lần thứ ba vào năm Tự Đức thứ 28 (1875) do người làng Minh Hương và các thương khách. Lần thứ tư vào năm Khải Định nhịn niên (1917) và gần đây nhất là năm 1986. Duy phần móng cầu xây bằng đá còn giữ gần như nguyên vẹn. Hầu hết các cấu kiện bằng vôi gạch, gỗ đều được thay thế qua các lần tu sửa nên có thay đổi ít nhiều.

Hiện cầu Nhật Bản là di tích nối liền hai phố Trần Phú và Nguyễn Thị Minh Khai, đảm bảo tuyến giao thông huyết mạch trong khu phố cổ Hội An. Và du khách đã có lần đến Hội An không thể nào bỏ qua di tích này.

Chia sẻ

Trả lời

Vui lòng viết ý kiến.
Nhập tên bạn